Lịch sử ra đời và phát triển truyền thống làm gốm ở Việt Nam

Truyền thống làm gốm tại Việt Nam đã phát triển từ rất lâu đời và có niên đại tồn tại vài thế kỷ. Cách ngày nay trên 2.000 năm, từ những kỹ thuật mới trong chế tác đồ gốm được phổ biến từ Trung Hoa, nghề gốm Việt Nam với trình độ và kinh nghiệm truyền thống sẵn có đã nhanh chóng tiếp thu, nắm vững và phát triển để tạo nên những sắc thái riêng biệt, trở thành một trong số ít các quốc gia có nghề sản xuất đồ gốm men ra đời sớm và phát triển liên tục. Vậy thì lịch sử làm gốm có từ khi nào và truyền thống làm gốm được truyền nối ra làm sao. Hãy cùng Gốm Sứ Mộc tìm hiểu ngay sao đây nhé!

1/ Lịch sử gốm phát triển

Việt Nam có lịch sử đồ gốm khá rực rỡ, đóng góp cho lịch sử gốm thế giới từ buổi đầu sơ khai với đồ gốm của các tộc người nguyên thủy đến các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn… Một sự tiếp biến văn hóa giữa nền văn hóa lớn Trung Hoa và sự đa dạng, mềm mại, khéo léo của văn hóa Đông Nam Á đã tạo cho đồ gốm Việt bản sắc độc đáo. Trong lịch sử, gốm Việt đã được đón chào ở khá nhiều quốc gia thông qua các con đường thương mại trên biển. Các loại gốm men ngọc, gốm men nâu, gốm hoa nâu, hoa lam… đã có mặt rất sớm ở thị trường Nhật, các quốc gia Đông Nam Á, Tây Á…

Mời các bạn đọc thêm bài viết: Nghề làm gốm đem lại những lợi ích như thế nào với xã hội?

truyền thống làm gốm
truyền thống làm gốm

2/ Những đặc trưng cơ bản sản phẩm gốm

Đặc trưng của đồ gốm thời kỳ này có xương gốm dày, men mỏng thường không phủ hết đồ vật, men màu vàng ngà, trắng nhạt, trắng xám; trang trí hoa văn in nổi ô trám, hoa văn xương cá hoặc lá dừa, hình thoi, chữ S, văn chải, văn sóng nước… một số ấm, âu, hũ có trang trí hình cánh sen, chim, cá, đầu gà, đầu voi. 

Thế kỷ thứ III đến cuối thế kỷ thứ VI, sản xuất đồ gốm ở khu vực phương Nam có những bước phát triển vượt bậc, xuất hiện một dòng gốm mới đó là gốm men trắng, men trắng xanh được nung với nhiệt độ cao, xương và men gốm cứng. Đây là một cuộc cách mạng trong sản xuất gốm sứ ở tầm mức thế giới. 

Việc nghiên cứu khai quật các lò gốm cổ ở Cổ Loa (Hà Nội), Đại Lai, Luy Lâu, Đương Xá (Bắc Ninh), Thanh Lãng, Đồng Đậu, Lũng Hòa (Vĩnh Phúc), Tam Thọ (Thanh Hóa) thấy xuất hiện nhiều những mảnh gốm men trắng, men trắng xanh với loại hình phong phú. Do vậy, có thể khẳng định chắc chắn rằng, Việt Nam thời kỳ này cũng đã bắt kịp và trở thành một trong những quốc gia hiếm hoi trên thế giới có thể sản xuất được loại gốm chất lượng cao này.

làng làm gốm
làng làm gốm nổi tiếng Việt Nam

3/ Quy trình truyền thống làm gốm cơ bản

3.1 Bước chọn và xử lý đất

Đất sét dùng để làm gốm phải có độ dẻo cao, hạt mịn, độ co ngót khi khô bé và có khả năng chịu lửa theo yêu cầu của mỗi loại sản phẩm gốm. Đất sét phải được xử lý để loại bỏ các tạp chất chứa trong nó. Trong quá trình xử lý, tùy theo từng loại gốm mà người ta có thể pha thêm cao lanh ở mức độ nhiều ít khác nhau. Có loại đất sét mỡ ít cát, hút nước nhiều, quá dính thì phải pha thêm cát và một số chất không dẻo để chống rạn nứt trong khi phơi hay nung gốm.

3.2 Tạo dáng sản phẩm gốm

Tạo dáng : Là khâu đặc biệt quan trọng trong quy trình sản xuất. Từ những mảnh đất đã được xử lý, người thợ bắt đầu truyền cho mỗi sản phẩm một hình dáng riêng biệt. Người thợ gốm có thể sử dụng phương pháp vuốt tay, be trạch trên bàn xoay hoặc tạo hình theo khuôn in. Sản phẩm sau khi tạo dáng còn ướt và rất dễ biến dạng do đó phải tiến hành phơi sản phẩm sao cho khô đều, không bị nứt nẻ, không làm thay đổi hình dáng của sản phẩm.

3.3 Trang trí hoa văn trên gốm

Trang trí hoa văn : Để nâng cao tính nghệ thuật cho tác phẩm gốm, người thợ gốm dùng bút lông vẽ màu lên sản phẩm với đủ loại hoa văn. Đôi khi họ cũng dùng các hình thức trang trí khác như đánh chỉ (định vòng tròn quanh miệng, thân hoặc chân sản phẩm bằng màu hoặc men màu) hay bôi men chảy (một loại men trang trí) lên miệng sản phẩm để khi nung men chảy tỏa xuống tạo nên những đường nét màu sắc tự nhiên hài hòa. Nhiều gia đình lại sử dụng kỹ thuật hấp hoa lên bề mặt gốm tráng men đã nung chín.

quy trình làm gốm
quy trình làm gốm nhất định để sản xuất gốm

3.4 Tráng Men

Tráng men :  Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sản phẩm ở nhiệt độ không cao rồi sau đó mới đem tráng men hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên rồi mới nung. Đối với các sản phẩm lớn người ta hay dùng phương pháp dội men hay phun men, còn các sản phẩm bé thì dùng phương pháp nhúng men.

3.5 Nung gốm

Quá trình nung : Các sản phẩm mộc thường được nung trong các loại lò ếch, lò đàn, lò bầu và gần đây là lò hộp. Nhiên liệu đun là củi, than cám hoặc ga. Tùy theo mỗi loại lò và mỗi dạng gốm cụ thể mà thời gian nung và nhiệt độ nung cũng khác nhau. Gốm đất nung ở nhiệt độ từ 600 – 900 độ C, gốm sành nâu từ 1100 – 1200 độ C, gốm sành xốp từ 1200 – 1250 độ C, gốm sành trắng từ 1250-1280 độ C và đồ sứ từ  1280 – 1350 độ C..

4.Mọi người cùng hỏi/Câu hỏi thường gặp

Nghề làm gốm truyền thống ở Việt Nam có từ bao giờ?

Trả lời: Nghề làm gốm truyền thống đã tồn tại ở Việt Nam từ thời kỳ đồ đá cũ.

Những đặc trưng nào của truyền thống làm gốm Việt Nam?

Trả lời: Truyền thống làm gốm Việt Nam có đặc trưng về hình thức, chất liệu và kỹ thuật sản xuất độc đáo, phù hợp với văn hóa và phong cách nghệ thuật của đất nước.

Hiện nay, truyền thống làm gốm Việt Nam đang gặp những thách thức gì?

Trả lời: Truyền thống làm gốm Việt Nam đang gặp phải nhiều thách thức từ sự phát triển của công nghiệp và sản xuất hàng hóa công nghiệp, cũng như thay đổi văn hóa tiêu dùng của người tiêu dùng.

Truyền thống làm gốm Việt Nam luôn mang một nét đẹp vô cùng quyến rũ và thôi thúc con người tìm hiểu và khám phá nó. Cùng khám phá hành trình của gốm Việt Nam, công chúng cũng sẽ tìm hiểu được những thăng trầm của từng giai đoạn lịch sử. Để thêm yêu mến và trân trọng những sản phẩm văn hóa mang dấu ấn, bản sắc văn hóa Việt.

Bài viết liên quan
Đặt hàng
087.790.7790